Hiện nay việc cài đặt gói RSAT trên Window 7 để quản lý Domain Controller trực tiếp thông qua Window 7 rất phổ biến cho các quản trị viên. Tuy nhiên sau khi cài đặt Remote Sever Administration Tools (RSAT) thì thường không có Dial-in tab trong cả Active Directory Administrative Center (ADAC) và Active Directory Users and Computers (ADUC).
Xem hình dưới.
Để thêm Dial-in Tab này vào thì chúng ta cần copy các thư viện dưới đây từ Window Server 2008 or Window Server 2012 vào đúng theo đường dẫn trên Window 7.
C:\Windows\System32\mprsnap.dll
C:\Windows\System32\rasuser.dll
C:\Windows\System\rtrfiltr.dll
và
C:\Windows\System32\en-US\mprsnap.dll.mui
C:\Windows\System32\en-US\rasuser.dll.mui
C:\Windows\System32\en-US folder.
Sau khi copy 3 thư viện trên vào Window 7 theo đường dẫn :\Windows\System32 và C:\Windows\System32\en-US.
Mở CMD với quyền Administrator và chạy dòng lệnh egsvr32.exe rasuser.dll
Sau khi chạy xong thì sẽ có bản thông báo dưới đây
Nếu một trong hai ADAC và ADUC đang mở thì phải đóng lại rồi thực hiện chạy lai ADAC hoặc ADUC thì chúng ta sẽ thấy tab Dial-in như hình.
Việc này giúp quản trị viên có thể cho phép người dùng (user) được quyền VPN vào hệ thống. Cách này áp dụng cho cả Window 7 x32 hoặc x64.
Cùng vấn đề này tuy nhiên trên Window 10 quản trị viên cần tải bản cài đặt cập nhật là Windows10RSAT_100105850.exe
Bản này áp dụng cho Window 10 downgrade xuống phiên bản thấp hơn để có được Dial-in tab trong Windows10RSAT_100105850. Lý do là vì MS cập nhật và bỏ mất phần Dial-in tab cho tất cả các version mới sau này. Vì thế đây là một thủ thuật giúp quản trị viên thêm tab này để cho phép user truy cập vào hệ thống qua VPN.
ITKnowleage.
IT Knowleage Sharing
Thursday, March 30, 2017
Wednesday, September 16, 2015
VPN trên linux
Hôm nay tôi xin giới thiệu một số bước cài đặt cũng như thiết lập VPN trên HDH Linux.
Do một số Linux intro chưa hỗ trợ nên chúng ta cần cài đặt các gói cần thiết trước khi đi vào mục thiết lập VPN.
Điều quan trong đầu tiên là cho phép thêm source (nguồn) để cài đặt các gói cần thiết.
Sau khi đã thêm source vào linux, chúng ta cần thật hiện cài đặt online (trực tuyến) từ source vừa mới thêm vào.
Chúng ta chọn create (tạo kênh VPN), để tạo một kênh VPN và chọn giao thức VPN mà mình mong muốn (có thể là OpenVPN, Cisco IPSec, PPTP...)
Thiết lập thông số cần thiết để tạo VPN.
- Mục 1: Tên kênh VPN (có thể đặt tên bất kỳ)
- Mục 2: Địa chỉ IP/Hostname (tên miền) của server cần vpn đến
- Mục 3: Username tên người dùng được phép vpn đến server
- Mục 4: Password của người dùng.
- Mục 5: Sau khi chọn Advanced.. thì chúng ta có thể lựa chọn các loai giao thức và chế độ mã hóa cho kênh vpn để trùng khớp với các thông số định sẵn của server.
Sau khi chúng ta đã chọn xong tất cả thì chọn ok, và chú ý đến mục"Connect automatically", mục này cho phép tự động kết nối mỗi khi khởi động máy (chúng ta có thể bỏ mục này nếu không muốn tự động thiết lập kết nối).
Chú ý: có một số trường hợp không thể thực hiện được kết nối (Failed to start) khi chúng ta chọn mục "Available to all users" do trong linux việc security giữa các user là rất quan trọng nên có thể gặp lỗi nếu chúng ta chọn vào mục này.
Sau khi hoàn tất chúng ta nhấn Save... để lưu lại kết nối. Nếu muốn kết nối vpn chỉ cần nhấp vào kết nối mà mình vừa thiết lập thì vpn sẽ báo connected.
Chúng ta có thể kiểm tra địa chỉ IP sau khi thực hiện kết nối bằng dòng lệnh sau:
#ifconfig -a
Chúc các bạn thành công.
Do một số Linux intro chưa hỗ trợ nên chúng ta cần cài đặt các gói cần thiết trước khi đi vào mục thiết lập VPN.
Điều quan trong đầu tiên là cho phép thêm source (nguồn) để cài đặt các gói cần thiết.
#wget http://download.fedoraproject.org/pub/epel/6/x86_64/epel-release-6-8.noarch.rpm
#rpm -ivh epel-release-6-8.noarch.rpm
Sau khi đã thêm source vào linux, chúng ta cần thật hiện cài đặt online (trực tuyến) từ source vừa mới thêm vào.
#yum -y install ppp
#yum -y install pptp
#yum -y install vpnc
#yum -y install openvpn
#yum install pptp NetworkManager-pptp* -y
#yum install pptp NetworkManager-vpnc* -y
#yum install pptp NetworkManager-openvpn* -y
#yum install NetworkManager* -y
Sau khi hoàn tất việc cài đặt, chúng ta tiếp bước mở Network-Manager trong giao dien trên linux.Chúng ta chọn create (tạo kênh VPN), để tạo một kênh VPN và chọn giao thức VPN mà mình mong muốn (có thể là OpenVPN, Cisco IPSec, PPTP...)
Thiết lập thông số cần thiết để tạo VPN.
- Mục 1: Tên kênh VPN (có thể đặt tên bất kỳ)
- Mục 2: Địa chỉ IP/Hostname (tên miền) của server cần vpn đến
- Mục 3: Username tên người dùng được phép vpn đến server
- Mục 4: Password của người dùng.
- Mục 5: Sau khi chọn Advanced.. thì chúng ta có thể lựa chọn các loai giao thức và chế độ mã hóa cho kênh vpn để trùng khớp với các thông số định sẵn của server.
Sau khi chúng ta đã chọn xong tất cả thì chọn ok, và chú ý đến mục"Connect automatically", mục này cho phép tự động kết nối mỗi khi khởi động máy (chúng ta có thể bỏ mục này nếu không muốn tự động thiết lập kết nối).
Chú ý: có một số trường hợp không thể thực hiện được kết nối (Failed to start) khi chúng ta chọn mục "Available to all users" do trong linux việc security giữa các user là rất quan trọng nên có thể gặp lỗi nếu chúng ta chọn vào mục này.
Sau khi hoàn tất chúng ta nhấn Save... để lưu lại kết nối. Nếu muốn kết nối vpn chỉ cần nhấp vào kết nối mà mình vừa thiết lập thì vpn sẽ báo connected.
Chúng ta có thể kiểm tra địa chỉ IP sau khi thực hiện kết nối bằng dòng lệnh sau:
#ifconfig -a
Chúc các bạn thành công.
Friday, August 21, 2015
10 mẫu lệnh Rsync trong Linux
Bài đọc liên quan.
+ Các mẫu lệnh SCP trên Linux
Rsynx command.
Như đã đăng ở bài trước về nhóm lệnh SCP trong các intro Linux, hôm nay tôi xin giới thiệu về một công cụ tương tự là Rsync cải thiện được những nhược điểm của SCP, giúp cho người quản trị Linux dễ dàng trong việc sao chép, đồng bộ tập tin giữa các máy chủ Linux trong mạng cục bộ cũng như qua Internet.
Một vài ưu điểm và tính năng của Rsync.
- Có tác dụng tích cự trong chép và đồng bộ hóa tập tin giữa các máy chủ Linux.
- Hỗ trợ sao chép tập tin qua những liên kết, thiết bị, trong cùng một máy, nhóm.
- Tốc độ có thể tối ưu hơn SCP vì sử dụng giao thức cập nhật từ xa( remote-update protocol) cho phép việc truyền dữ liệu giữa những tâp tin khác nhau. Thức nhất, đó là nó cho phép chép toàn bộ nội dung tập tin có trong thư mục hiện hành từ máy nguồn đến máy đích, và sau đó nó chỉ chép lại sự thay đổi của khối tập in và số bytes đến đích là xong.
- Rsync ít chiếm băng thông vì nó sử dụng phương pháp nén và giải nén trong quá trình gửi và nhận dữ liệu từ hai phía.
Cú pháp cơ bản của Rsync.
Cài đặt rsync trong Linux.
Chúng ta có thể cài gói rsync theo dòng lệnh sau:
Những lệnh sau sẽ cho phép đồng bộ (sync) một tập tin (file) trên cùng một máy từ thư mục này đến thư mục khác. Dưới đây là một ví dụ về chép tập tin backup.tar đến thư mục /tmp/backups.
Tiếp theo là chép từ thư mục này sang thu mục khác.
2. Chép tập tin và thư mục giữa các máy chủ Linux.
Dưới đây là đoạn lệnh chép dữ liệu đến một máy chủ từ xa (uploading).
Lấy một tập tin về (downloading) với tham số '-e' để thực hiện truyền dữ liệu.
Chép một tập tin từ máy hiện tại đến máy từ xa với ssh
Việc này cho phép chỉ định được loại tập tin và thư mục cần truyền tải cũng như loại trừ những tập tin không mong muốn sao chép hay đồng bộ. Đây là dòng lệnh mẫu.
Nếu một tập tin không tồn tại ở nguồn, nhưng đã có sẵn ở đích thì cần phải xóa nó trước khi đồng bộ hóa. Sử dụng tham số '-delete' để xóa những tập tin không có trong nguồn chép. Nguồn và đích là đồng bộ với nhau tao thành một tập tin mới ở đích.
7. Định kích cỡ gói tập tin trong chuyển dữ liệu.
Với tham số '-max size' thì có thể giới hạn những tập tin có trong định nghĩa được chép, chẳng hạn, kích cỡ định nghĩa là 200K, thì dòng lệnh chỉ chép những tập tin bằng hoặc nhỏ hơn 200k mà thôi.
Tham số '-remove-source-files' cho phép xóa tập tin sau khi đã hoàn tất việc chép tập tin điều này hữu ích trong việc backup máy chủ mà không muốn giữ lại dữ liệu ở máy chủ nguồn.
Sử dụng tham số này không làm thay đổi nào mà nó chỉ thực hiện lệnh và hiển thị ra nhưng lệnh mong muốn mà mình sẽ làm như một kiểm tra, điều này hữu ích cho những người mới hoặc đối với những tập tin quan trong cũng có thể là thực hiện chép dữ liệu rồi xóa tập tin nguồn, giúp hạn chế tối đa rủi rõ trong khi thưc hiện rsync.
10. Thiết lập băng thông và tập tin.
Việc truyền dữ liệu cần hạn chế băng thông để không gây ảnh hưởng đến nghẽn thì dùng tham số
'-bwlimit', điều này giúp hạn chế I/O trong băng thông
Nếu có gì cần đề xuất hay bình luận, mọi người vui long comment phía dưới!
+ Các mẫu lệnh SCP trên Linux
Rsynx command.
Như đã đăng ở bài trước về nhóm lệnh SCP trong các intro Linux, hôm nay tôi xin giới thiệu về một công cụ tương tự là Rsync cải thiện được những nhược điểm của SCP, giúp cho người quản trị Linux dễ dàng trong việc sao chép, đồng bộ tập tin giữa các máy chủ Linux trong mạng cục bộ cũng như qua Internet.
Một vài ưu điểm và tính năng của Rsync.
- Có tác dụng tích cự trong chép và đồng bộ hóa tập tin giữa các máy chủ Linux.
- Hỗ trợ sao chép tập tin qua những liên kết, thiết bị, trong cùng một máy, nhóm.
- Tốc độ có thể tối ưu hơn SCP vì sử dụng giao thức cập nhật từ xa( remote-update protocol) cho phép việc truyền dữ liệu giữa những tâp tin khác nhau. Thức nhất, đó là nó cho phép chép toàn bộ nội dung tập tin có trong thư mục hiện hành từ máy nguồn đến máy đích, và sau đó nó chỉ chép lại sự thay đổi của khối tập in và số bytes đến đích là xong.
- Rsync ít chiếm băng thông vì nó sử dụng phương pháp nén và giải nén trong quá trình gửi và nhận dữ liệu từ hai phía.
Cú pháp cơ bản của Rsync.
# rsync options source destinationMột vài tham chiếu được dùng trong Rsync
- -v : verbose
- -r : copies data recursively (but don’t preserve timestamps and permission while transferring data
- -a : archive mode, archive mode allows copying files recursively and it also preserves symbolic links, file permissions, user & group ownerships and timestamps
- -z : compress file data
- -h : human-readable, output numbers in a human-readable format
Cài đặt rsync trong Linux.
Chúng ta có thể cài gói rsync theo dòng lệnh sau:
# yum install rsync (On Red Hat based systems) # apt-get install rsync (On Debian based systems)
1. Sao chép hay đồng bộ hóa trong cùng một máy chủ.
Những lệnh sau sẽ cho phép đồng bộ (sync) một tập tin (file) trên cùng một máy từ thư mục này đến thư mục khác. Dưới đây là một ví dụ về chép tập tin backup.tar đến thư mục /tmp/backups.
root@tecmint]# rsync -zvh backup.tar /tmp/backups/ created directory /tmp/backups backup.tar sent 14.71M bytes received 31 bytes 3.27M bytes/sec total size is 16.18M speedup is 1.10
Nhìn vào ví dụ trên, có thể thấy rằng ở thư mục hiện tại không tồn tại thư mục backups từ trước và rsync đã tự động tạo thêm thư mục trong khi chép dữ liệu.
Tiếp theo là chép từ thư mục này sang thu mục khác.
[root@tecmint]# rsync -avzh /root/rpmpkgs /tmp/backups/ sending incremental file list rpmpkgs/ rpmpkgs/httpd-2.2.3-82.el5.centos.i386.rpm rpmpkgs/mod_ssl-2.2.3-82.el5.centos.i386.rpm rpmpkgs/nagios-3.5.0.tar.gz rpmpkgs/nagios-plugins-1.4.16.tar.gz sent 4.99M bytes received 92 bytes 3.33M bytes/sec total size is 4.99M speedup is 1.00
2. Chép tập tin và thư mục giữa các máy chủ Linux.
Dưới đây là đoạn lệnh chép dữ liệu đến một máy chủ từ xa (uploading).
[root@tecmint]$ rsync -avz rpmpkgs/ root@192.168.0.101:/home/ root@192.168.0.101's password: sending incremental file list ./ httpd-2.2.3-82.el5.centos.i386.rpm mod_ssl-2.2.3-82.el5.centos.i386.rpm nagios-3.5.0.tar.gz nagios-plugins-1.4.16.tar.gz sent 4993369 bytes received 91 bytes 399476.80 bytes/sec total size is 4991313 speedup is 1.00Tiếp theo là đoạn lệnh chép từ một máy khác (downloading).
[root@tecmint]# rsync -avzh root@192.168.0.100:/home/tarunika/rpmpkgs /tmp/myrpms root@192.168.0.100's password: receiving incremental file list created directory /tmp/myrpms rpmpkgs/ rpmpkgs/httpd-2.2.3-82.el5.centos.i386.rpm rpmpkgs/mod_ssl-2.2.3-82.el5.centos.i386.rpm rpmpkgs/nagios-3.5.0.tar.gz rpmpkgs/nagios-plugins-1.4.16.tar.gz sent 91 bytes received 4.99M bytes 322.16K bytes/sec total size is 4.99M speedup is 1.00
3. Rsync qua một phiên SSH
Lấy một tập tin về (downloading) với tham số '-e' để thực hiện truyền dữ liệu.
[root@tecmint]# rsync -avzhe ssh root@192.168.0.100:/root/install.log /tmp/ root@192.168.0.100's password: receiving incremental file list install.log sent 30 bytes received 8.12K bytes 1.48K bytes/sec total size is 30.74K speedup is 3.77
Chép một tập tin từ máy hiện tại đến máy từ xa với ssh
[root@tecmint]# rsync -avzhe ssh backup.tar root@192.168.0.100:/backups/ root@192.168.0.100's password: sending incremental file list backup.tar sent 14.71M bytes received 31 bytes 1.28M bytes/sec total size is 16.18M speedup is 1.104. Hiển thị quá trình truyền dữ liệu.Để hiện thị quá trình thực hiện truyền dữ liệu từ máy này đến máy khác, hãy thêm tham số '--progress' trong dòng lệnh.
[root@tecmint]# rsync -avzhe ssh --progress /home/rpmpkgs root@192.168.0.100:/root/rpmpkgs
root@192.168.0.100's password:
sending incremental file list
created directory /root/rpmpkgs
rpmpkgs/
rpmpkgs/httpd-2.2.3-82.el5.centos.i386.rpm
1.02M 100% 2.72MB/s 0:00:00 (xfer#1, to-check=3/5)
rpmpkgs/mod_ssl-2.2.3-82.el5.centos.i386.rpm
99.04K 100% 241.19kB/s 0:00:00 (xfer#2, to-check=2/5)
rpmpkgs/nagios-3.5.0.tar.gz
1.79M 100% 1.56MB/s 0:00:01 (xfer#3, to-check=1/5)
rpmpkgs/nagios-plugins-1.4.16.tar.gz
2.09M 100% 1.47MB/s 0:00:01 (xfer#4, to-check=0/5)
sent 4.99M bytes received 92 bytes 475.56K bytes/sec
total size is 4.99M speedup is 1.00
5. Sử dụng tham số '-include' và '-exclude' Việc này cho phép chỉ định được loại tập tin và thư mục cần truyền tải cũng như loại trừ những tập tin không mong muốn sao chép hay đồng bộ. Đây là dòng lệnh mẫu.
[root@tecmint]# rsync -avze ssh --include 'R*' --exclude '*' root@192.168.0.101:/var/lib/rpm/ /root/rpm root@192.168.0.101's password: receiving incremental file list created directory /root/rpm ./ Requirename Requireversion sent 67 bytes received 167289 bytes 7438.04 bytes/sec total size is 434176 speedup is 2.596. Sử dụng tham số '-delete'.
Nếu một tập tin không tồn tại ở nguồn, nhưng đã có sẵn ở đích thì cần phải xóa nó trước khi đồng bộ hóa. Sử dụng tham số '-delete' để xóa những tập tin không có trong nguồn chép. Nguồn và đích là đồng bộ với nhau tao thành một tập tin mới ở đích.
[root@tecmint]# touch test.txt [root@tecmint]# rsync -avz --delete root@192.168.0.100:/var/lib/rpm/ . Password: receiving file list ... done deleting test.txt ./ sent 26 bytes received 390 bytes 48.94 bytes/sec total size is 453Đích có 1 tập tin mới là test.txt, khi đồng bộ với tham số 'delete' nó xóa bỏ tập tin test.txt.
7. Định kích cỡ gói tập tin trong chuyển dữ liệu.
Với tham số '-max size' thì có thể giới hạn những tập tin có trong định nghĩa được chép, chẳng hạn, kích cỡ định nghĩa là 200K, thì dòng lệnh chỉ chép những tập tin bằng hoặc nhỏ hơn 200k mà thôi.
[root@tecmint]# rsync -avzhe ssh --max-size='200k' /var/lib/rpm/ root@192.168.0.100:/root/tmprpm root@192.168.0.100's password: sending incremental file list created directory /root/tmprpm ./ Conflictname Group Installtid Name Provideversion Pubkeys Requireversion Sha1header Sigmd5 Triggername __db.001 sent 189.79K bytes received 224 bytes 13.10K bytes/sec total size is 38.08M speedup is 200.438. Tự động xóa tập tin nguồn sau khi hoàn tất
Tham số '-remove-source-files' cho phép xóa tập tin sau khi đã hoàn tất việc chép tập tin điều này hữu ích trong việc backup máy chủ mà không muốn giữ lại dữ liệu ở máy chủ nguồn.
[root@tecmint]# rsync --remove-source-files -zvh backup.tar /tmp/backups/ backup.tar sent 14.71M bytes received 31 bytes 4.20M bytes/sec total size is 16.18M speedup is 1.10 [root@tecmint]# ll backup.tar ls: backup.tar: No such file or directory9. Thực hiện Dry Run với Rsync
Sử dụng tham số này không làm thay đổi nào mà nó chỉ thực hiện lệnh và hiển thị ra nhưng lệnh mong muốn mà mình sẽ làm như một kiểm tra, điều này hữu ích cho những người mới hoặc đối với những tập tin quan trong cũng có thể là thực hiện chép dữ liệu rồi xóa tập tin nguồn, giúp hạn chế tối đa rủi rõ trong khi thưc hiện rsync.
root@tecmint]# rsync --dry-run --remove-source-files -zvh backup.tar /tmp/backups/ backup.tar sent 35 bytes received 15 bytes 100.00 bytes/sec total size is 16.18M speedup is 323584.00 (DRY RUN)
10. Thiết lập băng thông và tập tin.
Việc truyền dữ liệu cần hạn chế băng thông để không gây ảnh hưởng đến nghẽn thì dùng tham số
'-bwlimit', điều này giúp hạn chế I/O trong băng thông
[root@tecmint]# rsync --bwlimit=100 -avzhe ssh /var/lib/rpm/ root@192.168.0.100:/root/tmprpm/ root@192.168.0.100's password: sending incremental file list sent 324 bytes received 12 bytes 61.09 bytes/sec total size is 38.08M speedup is 113347.05Theo như mặc định thì rsync đồng bộ những khối thay đổi trong tập tin và số bytes mà thôi, nên nếu muốn đồng bộ toàn bộ toàn bộ tập tin thì dùng thêm tham số '-W' theo dòng lệnh.
[root@tecmint]# rsync -zvhW backup.tar /tmp/backups/backup.tar backup.tar sent 14.71M bytes received 31 bytes 3.27M bytes/sec total size is 16.18M speedup is 1.10Trên đây là nhưng dòng lệnh tiêu biểu thông dụng của Rsync tuy nhiên nếu cần tìm hiểu chi tiết hơn thì chỉ cần gõ lệnh rsync --help trong linux để hiển thị tất cả đối số trong lệnh rsync.
Nếu có gì cần đề xuất hay bình luận, mọi người vui long comment phía dưới!
Wednesday, August 19, 2015
Các mẫu lệnh SCP trên Linux
SCP - Viết tắt của Secure copy.
Scp là một công cụ dùng để copy hay chuyển dữ liệu giữa các máy chủ (hosts). Nó được xem như là một công cụ giống với chương trình ssh. Thực ra nó sử dụng một kết nối ssh để thực thi chạy ngầm trong việc chuyển dữ liệu. Scp được dùng để tham chiếu cho cả hai định nghĩa về giao thức (protocol) và lập trình (program) dòng lệnh thể hiện cách nó chép dữ liệu và cũng được ứng dụng như là một phần trong bộ công cụ OpenSSH.
Cài đặt SCP.
Scp được có sẵn khi cài đặt các phiên bản Linux nằm trong gói openssh. Trong Ubutu/Debian chẳng hạn, thì gói openssh-client cung cấp sẵn chương trình scp.
Sử dụng Scp.
Cú pháp cơ bản :
Tùy thuộc vào từng máy chủ (host), đường dẫn cần phải đầy đủ tất cả địa chỉ host, số cổng kết nối, user và password. Vì thế nếu việc gửi dữ liệu từ máy hiện tại (local) đến máy từ xa (uploading) thì cấu trúc sẽ theo đường dẫn đến tập tin, chẳng hạn như sau:
Verbose output.
Với tham số này (verbose: -v) sau dong lenh scp thì nó sẽ xuất ra những thông tin đang chạy ngầm khi scp đang thực thi việc chép dữ liệu. Việc này khá hữu ích khi xãy ra lỗi trong quá trình chép tập tin, hay việc chép dữ liệu bị thất bại giữa chừng, nó chỉ ra chính xác thời điểm mà ở đó nó bị lỗi.
Để chép toàn bộ thư mục từ một máy đến một máy khác sử dụng -r kèm theo.
Scp là một công cụ dùng để copy hay chuyển dữ liệu giữa các máy chủ (hosts). Nó được xem như là một công cụ giống với chương trình ssh. Thực ra nó sử dụng một kết nối ssh để thực thi chạy ngầm trong việc chuyển dữ liệu. Scp được dùng để tham chiếu cho cả hai định nghĩa về giao thức (protocol) và lập trình (program) dòng lệnh thể hiện cách nó chép dữ liệu và cũng được ứng dụng như là một phần trong bộ công cụ OpenSSH.
Cài đặt SCP.
Scp được có sẵn khi cài đặt các phiên bản Linux nằm trong gói openssh. Trong Ubutu/Debian chẳng hạn, thì gói openssh-client cung cấp sẵn chương trình scp.
$ dpkg -L openssh-client | grep scp /usr/bin/scp /usr/share/man/man1/scp.1.gz
Trong gói OpenSSH đã cung cấp sẵn các công cụ như ssh, scp,sftp mà chúng ta không cần phải cài đặt điều gì thêm.
Sử dụng Scp.
Cú pháp cơ bản :
$ scp source_file_path destination_file_path
Tùy thuộc vào từng máy chủ (host), đường dẫn cần phải đầy đủ tất cả địa chỉ host, số cổng kết nối, user và password. Vì thế nếu việc gửi dữ liệu từ máy hiện tại (local) đến máy từ xa (uploading) thì cấu trúc sẽ theo đường dẫn đến tập tin, chẳng hạn như sau:
$ scp ~/my_local_file.txt user@remote_host.com:/some/remote/directory
Khi muốn chép dữ liệu từ một máy từ xa về máy hiện tại (downloading), thì chỉ cần đảo ngược lại:
$ scp user@remote_host.com:/some/remote/directory ~/my_local_file.txt # just download the file $ scp user@192.168.1.3:/some/path/file.txt .Việc này khá thông dụng trong scp, ngoài ra còn có nhiều lựa chọn khác nữa mà scp cung cấp và hỗ trợ, theo mặc định thì scp sẽ chép đè lên file hiện hành nếu trùng tên, do đó có thể sử dụng một công cụ tương tự khác để tránh việc làm này đó là rsync, Các tham chiếu có trong scp.
Verbose output.
Với tham số này (verbose: -v) sau dong lenh scp thì nó sẽ xuất ra những thông tin đang chạy ngầm khi scp đang thực thi việc chép dữ liệu. Việc này khá hữu ích khi xãy ra lỗi trong quá trình chép tập tin, hay việc chép dữ liệu bị thất bại giữa chừng, nó chỉ ra chính xác thời điểm mà ở đó nó bị lỗi.
$ scp -v ~/test.txt root@192.168.1.3:/root/help2356.txt Executing: program /usr/bin/ssh host 192.168.1.3, user root, command scp -v -t /root/help2356.txt OpenSSH_6.2p2 Ubuntu-6ubuntu0.1, OpenSSL 1.0.1e 11 Feb 2013 debug1: Reading configuration data /home/enlightened/.ssh/config debug1: Reading configuration data /etc/ssh/ssh_config debug1: /etc/ssh/ssh_config line 19: Applying options for * debug1: Connecting to 192.168.1.3 [192.168.1.3] port 22. debug1: Connection established. ..... OUTPUT TRUNCATED
Chép dữ liệu với nhiều tập tin trong danh mục.
Với nhiều tập tin cần được chép thì chỉ cần thêm khoảng trắng giữa các tập tin trong dòng lệnh.$ scp foo.txt bar.txt username@remotehost:/path/directory/
Để chép nhiều tập tin từ một máy từ xa đến thư mục hiện tại sử dụng dòng lệnh sau:
$ scp username@remotehost:/path/directory/\{foo.txt,bar.txt\} .
$ scp root@192.168.1.3:~/\{abc.log,cde.txt\} .
Chép toàn bộ thư mục (Recursively)Để chép toàn bộ thư mục từ một máy đến một máy khác sử dụng -r kèm theo.
$ scp -v -r ~/Downloads root@192.168.1.3:/root/Downloads
Chép các tập tin (files) giữa 2 máy từ xa.
Scp cho phép chép các tập tin giữa 2 máy từ xa bất kỳ.
$ scp user1@remotehost1:/some/remote/dir/foobar.txt user2@remotehost2:/some/remote/dir/
Tăng tốc việc truyền dữ liệu với nén tập tin.
Một hỗ trợ khá tuyệt vời để tăng tốc trong việc chuyển dữ liệu để giúp tiết kiệm thời gian, chỉ cần thêm tham số C (compression) vào dòng lệnh, tập tin sẽ được nén trong quá trình chuyển và được giải nén sau khi việc chép hoàn tất.
$ scp -vrC ~/Downloads root@192.168.1.3:/root/Downloads
Giới hạn băng thông sử dụng.
Nếu không muốn scp lấy toàn bộ băng thông có sẵn thì sử dụng tham số -l (limit) để giới hạn gói tin chuyển đi, đơn vị được tính là Kbit/s.
$ scp -vrC -l 400 ~/Downloads root@192.168.1.3:/root/Downloads
Kết nối với cổng được định nghĩa trên máy từ xa (remote host).
Nếu máy từ xa được mở cổng ssh khác với cổng mặc định (port 22), thì có thể cho thêm tham số -P trong dòng lệnh.
$ scp -vC -P 2200 ~/test.txt root@192.168.1.3:/some/path/test.txt
Duy trì thuộc tính của tập tin.
Tham số '-p' (smallcase) cho phép duy trì các thuộc tính của tập tin như thời gian chỉnh sửa, số lần truy cập...
$ scp -C -p ~/test.txt root@192.168.1.3:/some/path/test.txt
Chế độ chạy ngầm.
Trong chế độ này, scp sẽ triệt để chặn cũng như ẩn hay khóa các cảnh báo cũng như những thông điệp phân tích xuất hiện trong quá trình chuyển tập tin.
$ scp -vCq ~/test.txt root@192.168.1.3:/some/path/test.txt
Chỉ định thêm tập tin xác thực.
Khi sử dụng tham chiếu này để hỗ trợ bảo mật cho việc xác thực, thì cần định nghĩa sẵn một tập tin nhận dạng mà nó chứa khóa cá nhân (private key). Lựa chọn này được cho phép trực tiếp trong dòng lệnh ssh.
$ scp -vCq -i private_key.pem ~/test.txt root@192.168.1.3:/some/path/test.txt
Sử dụng tập tin ssh-config
Sử dụng tham chiếu -'F' để chỉ định một tập tin có sẵn cấu hình ssh.
$ scp -vC -F /home/user/my_ssh_config ~/test.txt root@192.168.1.3:/some/path/test.txt
Sử dụng mã hóa khác.
Mặc định thì scp đã mã hóa tập tin khi truyền dữ liệu, tuy nhiên có thể sử dụng một loại mã hóa nào đó khác với mặc định thì chỉ cần thêm tham chiếu như ví dụ.
$ scp -c blowfish -C ~/local_file.txt username@remotehost:/remote/path/file.txt
Tổng quát.
Mặc dù scp là rất hiệu dụng trong truyền dữ liệu an toàn, tuy nhiên nó còn thiếu chức năng đồng bộ hóa tập tin khi truyền lỗi hay trùng tên, tất cả chức năng của nó là sao chép từ nơi này đến nơi khác.
Một công cụ khác cũng mạnh mẽ không kém đố là Rsync, nó không chỉ có tất cả các chức năng của scp mà còn thêm chức năng đồng bộ hóa tập tin giữa 2 máy chủ.
Tuesday, August 18, 2015
Password Cracker bẻ khóa mật khẩu 55 ký tự.
Phiên bản mới nhất của hashcat, oclHashcat-plus v0.15, được tung ra vào hồi cuối tuần qua. Người đứng đầu nhóm phát triển Jens Steube phát biểu rằng đây là kết quả kéo dài hơn 6 tháng làm việc, và đã chỉnh sửa tổng cộng 618.473 dòng mã nguồn.
Hashcat là một công cụ bẻ khóa hoàn toàn miễn phí. Nó là một vũ khí nhắm vào 2 mục đích rõ ràng: có thể dùng để kiểm tra độ an ninh của mật khẩu của công ty, và cũng có thể được dùng bởi các tội phạm mạng để bẻ khóa những mật khậu bị đánh cắp. Một trong những điểm yếu lớn nhất của nó trước đây là hoàn toàn bất lực để đảm đương xử lý những mật khẩu có độ dài quá 15 ký tự: đến bây giờ thì phiên bản mới nhất có thể xử lý những loại mật khẩu có độ dài lên đến 55 ký tự.
Điều này là một trong những chức năng được yêu cầu cao nhất từ trước đến nay. Steube nhấn mạnh. " Chúng tôi đã cố thêm chức năng này , điều này cũng khiến chúng tôi phải gở bỏ một vài tối ưu hóa, kết quả là làm giảm hiệu suất trong giải thuật chương trình". Vì thế phiên bản mới cũng đi kèm một nhược điểm - hiệu suất để đạt đươc "trung bình khoảng độ 15%".
Thực tế thì điều này khong đáng lo ngại cho người dùng nhiều lắm. Nó là một công cụ bẻ khóa off-line, có nghĩa là nó bẻ khoá hàng loạt mật khẩu gián tiếp. Về mặt quản trị và kiểm soát, những danh sách đó sẽ được lấy từ máy chủ công ty. Về phía tội phạm mạng thì một có thể dùng những cách thông dụng hai là tạo một chương trình để lấy mật khẩu trực tuyến, chúng đều từ những mật khẩu bị lấy cắp.
Robin Wood, một chuyên gia về lãnh vực hacker mũ trắng, giải thích về việc dùng công cụ hashcat vào mục đích tốt. " Một trong những ứng dụng chính mà chương trình đem lại cho người dùng là chỉ cho khách hàng thấy được chính sách cần thiết cho việc đưa ra chính sách mật mã phức tạp", Anh ấy cũng chỉ ra thông tin bảo mật là. " Nếu tôi có được toàn bộ mã hash từ window domain tôi sẽ bẻ khóa được nhiều mật mã mà tôi có thể làm, sau đó phân tích chúng để tìm kiếm kiểu mẫu, độ dài, những từ được lập lại...". Wood là một nhà phát triển của Pipal, nơi sử dụng các nhà nghiên cứu về bảo mật để phân tích mật mã.
Một mũ đen khác sẽ sử dụng hashcat trong mục đích tương tự, hắn ta sẽ đánh cắp mật mã hay lấy chúng từ những cách thông dụng khác. hắn sẽ sử dụng hashcat trong một kiểu tương tự để lấy hàng loạt mật mã, nhưng sau đó hắn sẽ bẻ khóa mật mã để truy cập vào tài khoản người dùng - hoặc có thể bán các mật mã đã được bẻ khóa cho tội phạm mạng khác sử dụng chúng.
Những gì mà phiên bản mới của hashcat dẫn chứng là kích cỡ là không còn quan trọng nữa - mà ký tự sử dụng trong mật mã mới là vấn đề. Mặc dù độ dài là vận quan trọng, nhưng sự kết hợp những cụm ký tự và pha trộn những ký tự đặc biệt, con số và dấu chấm vẫn quan trọng hơn nhiều. Ars technica minh họa vấn đề rằng: Yiannis Chrysanthou đã bẻ khóa cụm mật mã ‘Ph'nglui mglw'nafh Cthulhu R'lyeh wgah'nagl fhtagn1’, một chuỗi ký tự xuất phát từ một câu chuyện của tiểu thuyết gia kinh dị giả tưởng HP Lovecraft." Nhưng bởi vì cụm từ này chứa trong một bài từ trang Wikipedia, điều này cho phép Chrysanthou dễ bẻ khóa cụm từ này trong vài phút". Ars cảnh báo.
Người dùng nên xem xét việc sử dụng mộ chương trình quản lý mật mã, chẳng hạn Keepass, để tạo một mật mã đủ mạnh mà ko bị tìm thấy trong từ điển mật mã. Và dĩ nhiên, chúng nên dùng một mật mã độc nhất cho mỗi mật mã khác nhau của tài khoản trực tuyến, điều này thậm chí khi bị đánh cắp bởi hacker và bẻ khóa bởi hashcat, thì ít nhất cũng chỉ một tài khoản quản lý bị tổn hại mà thôi.
Theo www.infosecurity-magazine.com
Subscribe to:
Comments (Atom)








